Cẩm nang viết luận văn

Xin trở lại đây thường xuyên để xem cập nhật.
Đăng lần đầu: 05/03/2007

Cập nhật: 27/03/2007 

1- Bản dịch Thánh Kinh:

Bản dịch Phan Khôi là bản dịch Thánh Kinh chính thức của trường. Sinh viên không dùng các bản dịch mới để trích dẫn trừ phi để chỉ ra cái sai.  

2- Câu:

Một câu có ít nhất một chủ từ và một động từ. Tỉ dụ: Tôi đi. Sau câu phải có dấu chấm (.). Nếu một câu chưa diễn tả hết được ý chính thì có thể dùng dấu chấm phẩy (;) để nối hai câu lại với nhau. Xin đừng lạm dụng kỷ thuật này vì câu sẽ trở thành rất dài. 

3- Đoạn:  

Một đoạn gồm có nhiều câu để diễn tả một ý chính. Tỉ dụ:  

Lễ Tạ Ơn bắt nguồn từ những di dân Âu Châu lập nghiệp trên Tân Thế Giới (Châu Mỹ). Đời sống của họ trên đất mới rất khổ nhọc vì thời tiết, bệnh tật; đồng ruộng, nông trại, nhà cửa phải xây dựng lại từ đầu. Tuy vậy, vào cuối mùa gặt hái, di dân có một buổi lễ để cảm tạ Đức Chúa Trời vì những gì họ gặt hái được trong vụ mùa vừa qua. Họ làm điều này hàng năm nhưng vẫn chưa chính thức dành riêng ra một ngày để tạ ơn Đức Chúa Trời cho đến năm 1863. Vào năm đó, trong khi nước Mỹ đang có nội chiến Nam Bắc, Tổng Thống Abraham Lincoln công bố ngày thứ năm thuộc tuần lễ chót, của tháng 11 là ngày Lễ Tạ Ơn của quốc gia, nghĩa là toàn quốc phải nghỉ làm việc để kỹ niệm nó. Từ đó đến nay, hàng năm cứ đến ngày đã định, toàn nước Hoa Kỳ nghỉ việc để tạ ơn Đức Chúa Trời vì những của cải vật chất Ngài đã ban cho trong năm qua. Mặc dù ngày Lễ Tạ Ơn bắt nguồn trong đức tin vào Đức Chúa Trời, càng ngày nó càng mất đi ý nghĩa. Dần dần, nó biến thành một ngày "thương mãi" như ngày lễ Giáng Sinh, khi mọi người lợi dụng dịp hạ giá để mua sắm thoả thích. Con người càng thích mua sắm chừng nào càng dễ quên sự ban ơn của Đức Chúa Trời chừng đó. Sự biến chất của ngày Lễ Tạ Ơn có thể do lòng con người đối với Đức Chúa Trời càng ngày càng nguội lạnh; cũng có thể vì đất nước Mỹ là đất nước của di dân, mà có rất nhiều di dân đến từ các nền văn hoá không biết đến Đức Chúa Trời, nên chẳng biết phải tạ ơn ai. 

4- Bài luận văn:

Một bài luận văn có ít nhất ba phần: Dẫn nhập, thân bài và kết luận.

Một phần có thể bao gồm nhiều đoạn.

5- Cách trích Thánh Kinh:  

5.1- Câu Thánh Kinh là một phần của câu văn của mình:  

Thí dụ (xin xem phần gạch dưới) : Ngoài ra, quan hệ giữa bà và chồng là A-đam (hay giữa chồng và vợ nói chung) không còn thuần là “xương của xương tôi, thịt của thịt tôi” (Sáng Thế Ký2:23) mà còn có thêm quan hệ “chiến tranh” nữa: Người vợ luôn luôn có khuynh hướng lấn lướt chồng và do đó người chồng có khuynh hướng cai trị người vợ (Sáng Thế Ký3:16). 

Không trích như sau: Ngoài ra, quan hệ giữa bà và chồng là A-đam (hay giữa chồng và vợ nói chung) không còn thuần là “A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra” (Sáng Thế Ký2:23) ... 

Vì câu trích là một phần của câu văn của mình, nên phần “A-đam nói rằng....” là dư thừa. Phía sau câu trích thì phải có địa chỉ Thánh Kinh. Nếu câu văn mình chấm dứt với địa chỉ Thánh Kinh thì chỉ để dấu chấm sau địa chỉ  Thánh Kinh. Tránh cách chấm câu như sau: 

Sứ Đồ Phao-lô trong thư viết cho các tín đồ thành Ê-phê-sô mô tả một cách gợi hình về cấu trúc của Hội Thánh rằng: “Anh em đã được dựng nên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Ðức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà, cả cái nhà đã dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để  làm nên một đền thờ thánh trong Chúa.” (Ê-phê-sô 2:20,21).

Điểm sai là trong câu trích (đóng mở ngoặc kép) có một dấu chấm và phiá sau địa chỉ Thánh Thánh lại có thêm một dấu chấm nữa. Do đó, địa chỉ Thánh Kinh đã trở thành một câu (!). 

5.2- Trích nguyên Thánh Kinh:  

Thí dụ:

Danh từ Hội Thánh xuất hiện trong Thánh Kinh lần đầu là do Đức Chúa Jesus Christ phán trong đoạn Thánh Kinh sau đây: 

"Khi Ðức Chúa Jêsus đã vào địa phận thành Sê-sa-rê Phi-líp, bèn hỏi môn đồ, mà rằng: Theo lời người ta nói thì Con Người là ai? Môn đồ thưa rằng: Người nói là Giăng Báp-tít; kẻ nói là Ê-li; kẻ khác lại nói là Giê-rê-mi, hay là một đấng tiên tri nào đó.
Ngài phán rằng: Còn các người thì xưng ta là ai? Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa là Ðấng Christ, con Ðức Chúa Trời hằng sống. Bấy giờ, Ðức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy.Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó." (Ma-thi-ơ 16:13-18) 

Trích như vậy thì nguyên đoạn Thánh Kinh phải viết thụt vào. Dấu chấm nằm trong ngoặc kép; sau khi đóng ngoặc kép rồi mới có điạ chỉ. Xin so sánh 5.2 với 5.1 để thấy sự khác nhau.  

5.3- Tên riêng trong Thánh Kinh:  

Phải dùng đúng y như tên trong bản dịch Phan Khôi, không viết tắt, không chế ra cách phiên âm mới. Thí dụ:  

Sáng - Phải viết đủ: Sáng Thế Ký
Giê - Phải viết đủ: Giê-rê-mi
Phục – Phải viết đủ: Phục Truyền Luật Lệ Ký  

Phải dùng gạch nối giữa các âm. Tỉ dụ: Y-sơ-ra-ên, Hê-bơ-rơ, Gia-cốp, Áp-ram, Sa-rai, Ê-díp-tô, v.v.

Ngoài ra có những tên phiên âm khác không có trong Thánh Kinh cũng tuân theo luật này. Tỉ dụ: Hy-lạp, Nga-xô, v.v. 

6- Tên gọi Thiên Chúa Ba Ngôi:

- Đức Giê-hô-va
- Đức Chúa Trời
- Đức Chúa Cha
- Đức Chúa Jêsus (hay Đức Chúa Jesus), Đức Chúa Con
- Đức Chúa Thánh Linh (hay Đức Thánh Linh)
- Đấng Christ 

Không được viết tắt. Tỉ dụ: ĐCT. 

7- Viết hoa:

- Phải viết hoa các tên riêng
- Phải viết hoa các chức vụ đi trước tên người. Tỉ dụ: Sứ Đồ Phao-lô, Vua Đa-vít, Tiên Tri Giê-rê-mi...
- Phải viết hoa các danh từ: Thánh Kinh, Cựu Ước, Tân Ước, Hội Thánh
- Phải viết hoa những chữ "Ngài", "Đấng" khi dùng để chỉ về Ba Ngôi Thiên Chúa 

8- Tài liệu tham khảo: 

Trong bài luận văn thì chú thích như sau: 

Theo các tài liệu lịch sử và văn hóa về xã hội thời Đức Chúa Jesus, chúng ta có thể tin rằng Chúa sử dụng tiếng A-ram của vùng Ga-li-lê [1].  

Cuối bài luận văn, làm phần: Tài liệu tham khảo để ghi chú những tài liệu được dùng tham khảo trong khi viết. 

          8.1- Nếu tài liệu là một cuốn sách viết bởi một hay nhiều người thì ghi chú như sau: 

Tài liệu tham khảo 

1- Nguyễn văn A, Nguyễn văn B, Nguyễn văn C, và Nguyễn văn X, Cách viết luận văn, Nhà xuất bản, trang 1-10 (năm xuất bản) 

          8.2- Nếu tài liệu là một bài luận văn trong một tập san (proceeding) có chính giả (editors), trong đó có nhiều bài, một bài có một hay nhiều tác giả thì ghi chú như sau:

Tài liệu tham khảo 

1- Nguyễn văn A, Nguyễn văn B, Nguyễn văn C, và Nguyễn văn X, "Cách viết luận văn tiếng Việt,"  trong Văn Phạm Tiếng Việt, Hiệu Chính Lê Văn D, Lê Thị Y, và Trần văn X, Nhà xuất bản, trang 1-10 (năm xuất bản)

Chú ý:  

  • Tên bài thì phải nằm trong ngoặc kép
  • Tên sách thì phải gạch dưới
  • Năm xuất bản thì phải nằm trong ngoặc đơn 

8.3- Nếu một ý trong bài luận văn được tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau, thì trong bài đánh số như vậy: [1, 2, 3]. Trong phần “Tài liệu tham khảo” phải có nguồn cho từng số một. Tì dụ: 1-, 2-, 3-, v.v. 

          8.4- Nếu bài luận chỉ có một nguồn (như một cuốn sách) được tham khảo nhiều lần; một lần có số trang khác nhau thì trong phần “Tài liệu tham khảo” ghi chú như sau:
 

Tài liệu tham khảo: 

1- Nguyễn văn A, Nguyễn văn B, Nguyễn văn C và Nguyễn văn X, Cách viết luận văn, Nhà xuất bản, trang 1-10 (năm xuất bản) 

2- Tài liệu đã dẫn, trang 11-20 

3- Tài liệu đã dẫn, trang 21-22

           8.5- Nếu bài luận có nhiều nguồn tham khảo, trong đó có một nguồn được tham khảo nhiều lần, thì ghi chú như sau đây cho nguồn được tham khảo nhiều lần đó:

Tài liệu tham khảo: 

1- Nguyễn văn A, Nguyễn văn B, Nguyễn văn C, và Nguyễn văn X, Cách viết luận văn, Nhà xuất bản, trang 1-10 (năm xuất bản) 

2- Nguyễn văn A, trang 11-20 

3- Nguyễn văn A, trang 21-22

Chú ý: 

  • Chỉ viết đủ dữ liệu cho lần đầu tham khảo. Những lần sau, chỉ kê tên tác giả và số trang. 

8.6- Nếu ông Nguyễn văn A đồng tác giả với nhiều người khác nhau, trong các tài liệu khác nhau, thì ghi chú như sau: 

 

Tài liệu tham khảo:

 1- Nguyễn văn A, Nguyễn văn B, Nguyễn văn C và Nguyễn văn X, Cách viết luận văn, Nhà xuất bản, trang 1-10 (năm xuất bản) 

2- Nguyễn văn A và John Smith, A Biblical approach to solving a marriage problem, Nhà xuất bản, trang 100-101 (năm xuất bản) 

3- Nguyễn văn A, Nguyễn văn B, Nguyễn văn C và Nguyễn văn X, trang 21-22 

4- Nguyễn văn A, và John Smith, trang 1000-1001

 Chú ý: 

  • Vì Nguyễn văn A là tác giả trưởng (lead author) trong hai tài liệu khác nhau; chúng lại được tham khảo nhiều lần nên cần phải nêu hết tên các tác giả trong điểm 3 và 4 để khỏi lộn. Trong trường hợp này không thể dùng “Sách đã dẫn” vì có nhiều sách/ tài liệu tham khảo.